THV NEWS 
50.000 web site miễn phí
» QUY CHẾ
» THÔNG BÁO
Xây dựng thương hiệu
» THƯƠNG HIỆU HÀNG ĐẦU
» Thuật ngữ Thương hiệu
» Tình huống Thương hiệu
» Đo lường Thương hiệu
» Thiết kế & thương hiệu
» Kiến thức thương hiệu
» Chân dung Thương hiệu
Thương mại điện tử
» Văn bản TMĐT
» Kiến thức TMĐT
» Tin tức TMĐT
» Địa chỉ TMĐT
Nhịp sống @
» Điện thoại
» Máy tính
» Xe
» Thủ thuật
Kiến thức & Tư liệu
» Nhân vật - Sự kiện
» Sách thương hiệu
» Quản trị kinh doanh
» Phóng sự Thương hiệu
» Kiến thức kinh doanh
Giải trí
» Thời trang
» Âm nhạc
» Sân khấu - Điện ảnh
» Chuyện lạ
Đời sống
» Gia đình - Xã hội
» Sức khỏe - Làm đẹp
» Thơ - Thư giãn
» Vui cười
Tin Thương hiệu Việt
» Tin doanh nghiệp THV
» DOANH NHÂN ƯU TÚ
» Sự kiện - Khuyến mãi
» Việc làm - Tuyển dụng
Tin kinh tế
» Thông tin thị trường
» WTO & Kinh tế đối ngoại
» Khoa học & Công nghệ
» Thị trường địa ốc
 HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN 
BAN ĐIỀU HÀNH
 QUẢNG CÁO 
  Tin hoạt động  |  Tin môi trường  |  Văn bản  
Bảo vệ môi trường trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, dịch vụ ở Việt Nam
Doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong bảo vệ môi trường (BVMT) và phát triển bền vững đất nước. Chất lượng môi trường và sự phát triển bền vững phụ thuộc rất nhiều vào sự tham gia của các doanh nghiệp trong BVMT. Chính vì vậy, BVMT tại các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, dịch vụ đang là mối quan tâm lớn trong công tác quản lý nhà nước về BVMT ở nước ta hiện nay.
Đất nước ta đang trong tiến trình đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Phát triển kinh tế - xã hội đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Nhiều chính sách đổi mới đã được ban hành có tác động mạnh mẽ tới các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, trong đó có lĩnh vực môi trường. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên đã được chú trọng bảo vệ, quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả; các doanh nghiệp được khuyến khích chuyển đổi công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường.

       Tuy nhiên, cũng như nhiều nước trên thế giới, tăng trưởng kinh tế nhanh thường đi kèm với các vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nếu không có các giải pháp hữu hiệu ngăn chặn. Tăng trưởng sẽ không bền vững nếu sự tăng trưởng đó không tính đến các chi phí thiệt hại phải bỏ ra do ô nhiễm môi trường. Việt Nam cũng ở trong tình trạng các thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra ở mức cao và đang có xu hướng gia tăng.

Để giải quyết mối quan hệ tương tác giữa BVMT và phát triển kinh tế, điều tiên quyết là phải có các chính sách kinh tế - xã hội - môi trường phù hợp, lấy phòng ngừa làm nguyên tắc cơ bản và mục tiêu bao trùm là phát triển bền vững. Nhận thức rõ vấn đề đó, quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã sớm được Đảng và Nhà nước ta đặt ra với nội dung ngày càng hoàn thiện và đã trở thành một chủ trương nhất quán trong lãnh đạo, quản lý, điều hành tiến trình phát triển của đất nước trong nhiều thập kỷ qua. Nhà nước ta cũng đã có những cam kết mạnh mẽ về phát triển bền vững.

Doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong bảo vệ môi trường (BVMT) và phát triển bền vững đất nước. Chất lượng môi trường và sự phát triển bền vững phụ thuộc rất nhiều vào sự tham gia của các doanh nghiệp trong BVMT. Chính vì vậy, BVMT tại các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, dịch vụ đang là mối quan tâm lớn trong công tác quản lý nhà nước về BVMT ở nước ta hiện nay.

1. Chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về BVMT trong các doanh nghiệp

Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2001 và định hướng đến năm 2010 đã đặt ra những mục tiêu cụ thể đối với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong công tác BVMT. Cụ thể phấn đấu đến năm 2020, có 80% cơ sở sản xuất, kinh doanh được cấp Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc Chứng chỉ ISO 14001; 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu ô nhiễm, xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường; 100% khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường; 100% sản phẩm, hàng hoá xuất khẩu và 50% hàng hoá tiêu dùng trong nội địa được ghi nhãn môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14021; hình thành và phát triển ngành công nghiệp tái chế chất thải để tái sử dụng, phấn đấu 30% chất thải thu gom được tái chế.

Để đạt được mục tiêu trên, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách về môi trường theo 3 cách tiếp cận gồm: các chính sách bắt buộc, các chính sách khuyến khích và các chính sách hỗ trợ. Tùy từng thời điểm khác nhau, hoàn cảnh cụ thể khác nhau, các chính sách này có thể được điều chỉnh nhằm tạo ra một cơ chế hiệu quả đối với công tác BVMT.

Đối với các doanh nghiệp, các chính sách bắt buộc, khuyến khích, hỗ trợ được xây dựng theo nguyên tắc phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục sự cố môi trường và cải thiện môi trường. Các chính sách này đã được thể chế chế hoá trong Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản dưới luật. Trong đó có một số quy định mang tính cưỡng chế về môi trường đối với doanh nghiệp; một số chủ trương, chính sách khuyến khích, hỗ trợ để doanh nghiệp thực hiện BVMT và tham gia BVMT chung.

Nghiên cứu cơ chế áp dụng các chính sách công cụ kinh tế, các chính sách tài chính nhằm khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng công nghệ sạch, tạo cơ chế sử dụng nguồn phí thu được để đầu tư trở lại cho BVMT. Từng bước thực hiện tốt việc lồng ghép kế hoạch BVMT vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi ngành, địa phương, mỗi doanh nghiệp và trong từng dự án.

1.1. Một số chính sách khuyến khích

Cùng với các chính sách mang tính chất bắt buộc doanh nghiệp phải chấp hành, Nhà nước cũng đã có và đang trong quá trình xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp BVMT. Một số cơ chế, chính sách khuyến khích cụ thể được quy định tại Quyết định số 129/2009/QĐ-TTg ngày 29-10-2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên và môi trường”.

Mục tiêu của Đề án là xây dựng và hoàn thiện một hệ thống cơ chế chính sách đồng bộ, cụ thể, nhất quán về đất đai, tài chính, vốn đầu tư, nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ để khuyến khích đầu tư, đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu bảo vệ tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững đã được đặt ra. Theo quam điểm, sự nghiệp bảo vệ tài nguyên và môi trường là của toàn dân, do dân và vì dân. Nhà nước thực hiện chức năng quản lý, giám sát các tổ chức và cá nhân thực thi bảo vệ tài nguyên và môi trường theo quy định của pháp luật.

Theo đó, việc xây dựng Đề án thực hiện theo nguyên tắc: Tạo bước đột phá mới về cơ chế, chính sách vĩ mô, nhằm tăng khả năng khai thác các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực trong nước để tăng vốn đầu tư cho lĩnh vực tài nguyên và môi trường, bảo đảm thực hiện các mục tiêu về bảo vệ tài nguyên và môi trường; bảo đảm phát triển bền vững trên cơ sở BVMT.

Các nhóm cơ chế chính sách cụ thể bao gồm: nhóm các cơ chế chính sách về quy hoạch sử dụng đất; chính sách khuyến khích về đất đai; chính sách khuyến khích về tài chính; chính sách khuyến khích thu hút các nguồn vốn đầu tư; chính sách khuyến khích về nguồn nhân lực và nhóm các cơ chế, chính sách khuyến khích về khoa học - công nghệ.

Ở các đô thị và khu công nghiệp, quỹ đất dành cho các công trình về môi trường phải được thể hiện chi tiết trong quy hoạch sử dụng đất. Đất sử dụng cho việc xây dựng các công trình, dự án về môi trường được miễn, giảm các loại phí trước bạ, tiền thuê đất, giao đất và thuế sử dụng đất. Tiếp tục đẩy mạnh việc giao đất, giao và khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài cho các hộ gia đình nông dân, doanh nghiệp, tổ chức có tư cách pháp nhân và cộng đồng dân cư thôn bản... Về nguồn vốn đầu tư, sẽ tăng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, ưu tiên đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng nhà nước, vốn ODA; cho phép doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận trước thuế để đầu tư xử lý chất thải sau sản xuất. Nhà nước sẽ hỗ trợ vốn và cho vay tín dụng ưu đãi với lãi suất thấp hoặc không lãi suất đối với các dự án thuộc lĩnh vực bảo vệ tài nguyên và môi trường. Ngân sách Trung ương hỗ trợ các địa phương theo các chương trình hỗ trợ đầu tư có mục tiêu bảo vệ tài nguyên và môi trường trọng điểm mang tính liên ngành, liên vùng. Nhà nước sẽ dành ngân sách thỏa đáng cho việc nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên và môi trường; hỗ trợ kinh phí hoặc trợ giá một phần cho việc đầu tư ứng dụng tiến bộ KH-CN trong các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh theo hướng sạch hơn. Ngoài ra, sẽ sửa đổi những quy định liên quan đến việc chuyển giao công nghệ theo hướng đơn giản hóa các thủ tục hành chính, giảm thuế.

1.2. Một số chính sách hỗ trợ

Để thu hút sự tham gia rộng rãi hơn nữa của các thành phần kinh tế vào công tác BVMT, Nhà nước ta cũng đã và đang tích cực xây dựng, ban hành các chính sách ưu đãi, hỗ trợ các hoạt động BVMT của doanh nghiệp, cụ thể là:

1.2.1. Luật Bảo vệ môi trường năm 2005

Điều 117, Luật BVMT 2005 quy định các hoạt động BVMT như: xây dựng hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tập trung; xây dựng cơ sở tái chế, xử lý chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại, khu chôn lấp chất thải; xây dựng trạm quan trắc môi trường; di dời cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; xây dựng cơ sở công nghiệp môi trường và công trình BVMT khác phục vụ lợi ích công về BVMT thì được Nhà nước ưu đãi, hỗ trợ về đất đai.

Hoạt động tái chế, xử lý, chôn lấp chất thải; sản xuất năng lượng sạch, năng lượng tái tạo được miễn hoặc giảm thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng, thuế môi trường, phí BVMT. Máy móc, thiết bị, phương tiện, dụng cụ nhập khẩu được sử dụng trực tiếp trong việc thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải; quan trắc và phân tích môi trường; sản xuất năng lượng sạch, năng lượng tái tạo được miễn thuế nhập khẩu. Các sản phẩm tái chế từ chất thải, năng lượng thu được từ việc tiêu huỷ chất thải, các sản phẩm thay thế nguyên liệu tự nhiên có lợi cho môi trường được Nhà nước trợ giá.

Ngoài ra, tổ chức, cá nhân đầu tư BVMT được ưu tiên vay vốn từ các quỹ BVMT; trường hợp vay vốn tại các tổ chức tín dụng khác để đầu tư BVMT thì được xem xét hỗ trợ lãi suất sau đầu tư hoặc bảo lãnh tín dụng đầu tư theo điều lệ của quỹ BVMT. Các chương trình, dự án BVMT trọng điểm của Nhà nước cần sử dụng vốn lớn được ưu tiên xem xét cho sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức.

1.2.2. Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14-01-2009 của Chính phủ về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động BVMT 

Nghị định này quy định ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp về đất đai, vốn; miễn, giảm thuế, phí đối với hoạt động BVMT; trợ giá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm từ hoạt động BVMT. Nghị định cũng quy định danh mục chi tiết các hoạt động được đặc biệt hỗ trợ, ưu đãi và danh mục các hoạt động được ưu đãi, hỗ trợ trong lĩnh vực BVMT. 

Đối tượng được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ là các tổ chức, cá nhân có dự án đầu tư mới; dự án đầu tư mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh, đổi mới công nghệ trong việc thực hiện hoạt động BVMT; dự án đầu tư nghiên cứu khoa học, chuyển giao và ứng dụng công nghệ xử lý, tái chế chất thải, công nghệ thân thiện với môi trường và cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải di dời.

Nghị định cũng hướng dẫn chi tiết các thủ tục mà các tổ chức, cá nhân phải tiến hành để nhận được các hỗ trợ, ưu đãi.

 

1.2.3. Thông tư số 230/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính về hướng dẫn ưu đãi thuế đối với hoạt động BVMT quy định tại Nghị định 04/2009/NĐ-CP về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động BVMT 

Thông tư quy định rõ doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện dự án đầu tư BVMT, đáp ứng các tiêu chí cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực môi trường được áp dụng thuế suất 10% trong suốt thời gian hoạt động đối với phần thu nhập của doanh nghiệp có được từ dự án BVMT. Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư hoạt động trong lĩnh vực BVMT thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn theo quy định tại Nghị định số 124/2008/NĐ-CP thì được miễn thuế 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và được giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo; các doanh nghiệp thành lập mới khác được miễn thuế 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và được giảm 50% số thuế phải nộp trong 5 năm tiếp theo.

1.2.4. Quyết định số 1030/-TTg ngày 20-7-2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Đề án phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025".

Theo Quyết định này, Nhà nước sẽ hỗ trợ qua tín dụng nhà nước để phát triển ngành công nghiệp môi trường và khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư phát triển ngành công nghiệp này. Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp môi trường được hưởng các chính sách ưu đãi cao nhất về đất đai, vốn, thuế theo quy định của pháp luật.

1.2.5. Quyết định số 249/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án phát triển dịch vụ môi trường đến năm 2020

Theo Quyết định này, Nhà nước cũng có nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển dịch vụ môi trường. Theo đó, các tổ chức, cá nhân tham gia cung ứng dịch vụ môi trường được hưởng các chính sách hỗ trợ về đất đai, vốn; ưu đãi về tín dụng; trợ cấp; miễn giảm thuế, phí ở mức cao nhất theo quy định của pháp luật.

1.2.6. Quyết định 130/2007/QĐ-TTg về một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch (CDM)

Theo đó, dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch CDM được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án, hàng hoá nhập khẩu là nguyên liệu, vật tư, bán thành phẩm trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để phục vụ sản xuất,… Thông tư liên tịch số 58/2008/TTLT-BTC-TN&MT cũng đã hướng dẫn thực hiện một số điều của Quyết định này trong việc thu, nộp, quản lý, sử dụng tiền thu lệ phí bán chứng chỉ giảm phát thải khí nhà kính được chứng nhận.

1.2.7. Các quỹ BVMT ở Việt Nam

Các hoạt động đầu tư cho BVMT là đối tượng cho vay ưu đãi của các quỹ BVMT ở Việt Nam, bao gồm Quỹ BVMT Việt Nam, Quỹ BVMT các địa phương.

Quỹ BVMT Việt Nam hoạt động theo các phương thức: cho vay với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, tài trợ và đồng tài trợ, nhận uỷ thác và uỷ thác, mua trái phiếu chính phủ. Đối tượng được hỗ trợ tài chính là các chương trình, dự án, hoạt động và nhiệm vụ BVMT mang tính chất quốc gia, liên ngành, liên vùng,...  

Ở các địa phương, quỹ BVMT cấp tỉnh đã được hình thành ở gần 30 tỉnh và thành phố. Các quỹ này cũng hỗ trợ tài chính cho các chương trình, dự án BVMT trên địa bàn địa phương. Quỹ tái chế chất thải Thành phố Hồ Chí Minh với mục đích cho vay vốn để thực hiện các chương trình, đề án, dự án thử nghiệm, nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực quản lý, tái chế, tái sử dụng chất thải.

 

1.3. Các chính sách bắt buộc

Điều kiện tiên quyết đặt ra đối với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ là phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về BVMT. Chất thải của doanh nghiệp phải quản lý và xử lý đạt các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường cấp quốc gia, ngành hoặc địa phương. Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT, trong đó có nhiều chế tài xử lý vi phạm rất nghiêm khắc và có tính răn đe để buộc các doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định nói trên của pháp luật về BVMT.

2. Thực trạng tuân thủ pháp luật về BVMT tại các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở Việt Nam

Kết quả thanh tra, kiểm tra năm 2010 của Tổng cục Môi trường đối với 260 cơ sở, khu công nghiệp trên phạm vi 46 tỉnh, thành phố (trong đó có 164 khu công nghiệp, 76 cơ sở thuộc trách nhiệm thanh tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường và 20 cơ sở thuộc danh mục các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) cho thấy:

- Có 33/174 cơ sở, khu công nghiệp, cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg đang hoạt động (chiếm 18,97%) chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận cam kết BVMT hoặc phê duyệt đề án BVMT theo quy định (chủ yếu là khu công nghiệp và cơ sở thuộc Quyết định số 64), tuy nhiên chỉ có 36/141 (chiếm 25,53%) số cơ sở đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung và yêu cầu trong quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường;

- Có 111/174 cơ sở (chiếm 63,79%) thực hiện giám sát môi trường không đúng theo quy định;

- Có 32/100 (chiếm 32%) khu công nghiệp đang hoạt động đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, nhưng có đến 18/32 khu công nghiệp (chiếm 56,25%) có hệ thống xử lý nước thải chưa đạt yêu cầu, nước thải vượt QCVN;

- Có 46/74 cơ sở đang hoạt động (chiếm 62,16%) đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải theo quy định, tuy nhiên có đến 19/46 cơ sở (chiếm 41,30%) có hệ thống xử lý nước thải chưa đạt yêu cầu, nước thải vượt QCVN;

- Hầu hết các khu công nghiệp chưa có bãi trung chuyển chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại tập trung theo quy định;

- Có 26/65 cơ sở (chiếm 40%) có phát sinh chất thải nguy hại nhưng không thực hiện đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại theo quy định và có đến 52/65 cơ sở (chiếm 80%) có phát sinh chất thải nguy hại vi phạm các quy định về quản lý chất thải nguy hại;

- Có 12/74 cơ sở (chiếm 16,22%) có các thông số khí thải vượt QCVN;

- Có 15/16 cơ sở (chiếm 93,75%) thực hiện không đúng nội dung yêu cầu, tiến độ xử lý ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Như vậy có thể thấy, ý thức tuân thủ pháp luật về BVMT của nhiều cơ sở sản xuất, chủ đầu tư các khu công nghiệp còn kém, vẫn còn tình trạng nhiều doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh mà chưa coi trọng công tác BVMT. Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa có ý thức trách nhiệm đầu tư đầy đủ và đồng bộ các công trình xử lý môi trường, một số công trình xử lý môi trường được xây dựng theo công nghệ lạc hậu, cũ kỹ, mang nặng tính hình thức, đối phó với cơ quan chức năng,… Đây cũng là nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc thực hiện không đúng, không đầy đủ các yêu cầu BVMT của các cơ sở, chủ đầu tư khu công nghiệp (thực hiện không đúng nội dung báo cáo ĐTM, thực hiện giám sát môi trường không đúng quy định,…).

3. Một số giải pháp nâng cao công tác BVMT tại các doanh nghiệp

Để các doanh nghiệp thực sự quan tâm, coi trọng công tác BVMT, đóng góp to lớn vào sự nghiệp BVMT chung của đất nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã và đang đề xuất, kiến nghị với Đảng, Quốc hội, Chính phủ thực hiện các giải pháp đồng bộ sau đây:

3.1. Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thân thiện với môi trường, tiếp cận mô hình "tăng trưởng xanh" đã được đề cập trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Khuyến khích các doanh nghiệp chủ động xây dựng năng lực nội sinh nhằm sử dụng và phát triển các công nghệ tiết kiệm tài nguyên, nguyên liệu, năng lượng, thân thiện với môi trường, phát triển kinh tế xanh; đẩy mạnh chương trình cấp Nhãn xanh môi trường đối với các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật về BVMT.

3.2. Đẩy mạnh cơ chế kinh tế hóa, chuyển đổi quyết liệt cơ chế nặng về "bao cấp", "xin - cho" trong quản lý tài nguyên và BVMT sang cơ chế thị trường. Quy hoạch phát triển các KCN mới phải được lồng ghép chặt chẽ với các yêu cầu BVMT trên quan điểm phát triển bền vững; ưu tiên nghiên cứu áp dụng các mô hình KCN sinh thái, KCN bền vững; khuyến khích đầu tư vào các ngành sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, sử dụng công nghệ sạch. Hạn chế đầu tư vào các ngành tiêu hao nhiều năng lượng, không chấp nhận những dự án đầu tư công nghệ thấp, gây ô nhiễm môi trường. Thực hiện nghiêm pháp luật về BVMT và các giải pháp đồng bộ, tránh biến nước ta thành bãi thải công nghệ của các nước phát triển.

3.3. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành, tiến tới xây dựng Bộ luật Môi trường sửa đổi. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã kiến nghị Chính phủ cho phép đánh giá tác động của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 để ban hành Bộ luật về môi trường mới, rộng hơn, cụ thể hơn và khả thi hơn vào thời gian sớm nhất. Trước mắt, cần bổ sung, hoàn thiện các quy định và cơ chế quản lý về BVMT khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, cụm công nghiệp, làng nghề, các lưu vực sông, môi trường nông thôn, miền núi, biển và hải đảo.

3.4. Khẩn trương xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể, chi tiết hơn về các chính sách ưu đãi doanh nghiệp về đất đai, về vốn, về thuế, về tín dụng cho các hoạt động BVMT, cụ thể:

- Vthuế, phí và lệ phí môi trường: đã trình Quốc hội phê chuẩn Luật Thuế bảo vệ môi trường và đang chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực thi trong thời gian tới; tiến hành sửa đổi các quy định về thu phí BVMT đối với nước thải, chất thải rắn nhằm tăng nguồn thu này; đang xây dựng để tiếp tục trình ban hành các quy định về phí BVMT đối với khí thải.

- Về các loại thuế khác, sẽ quy định khoảng thời gian áp dụng các chính sách miễn giảm thuế (thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp) cần đủ dài để cơ sở, doanh nghiệp có đủ điều kiện thu hồi vốn đầu tư và khuyến khích đầu tư mạnh hơn nữa vào công tác BVMT. Đồng thời, miễn giảm thuế đối với phần lợi nhuận hay chi phí mà các doanh nghiệp dành để đào tạo cán bộ khoa học và công nghệ và cán bộ chịu trách nhiệm đối với sản xuất sạch và BVMT liên quan đến sản xuất trong doanh nghiệp.

- Về hỗ trợ vốn doanh nghiệp: Cơ chế hỗ trợ vốn thích hợp cho các doanh nghiệp là thông qua quỹ môi trường. Do đó đề nghị sớm thành lập quỹ môi trường quốc gia và hoàn thiện mô hình hoạt động của các quỹ môi trường địa phương. Hiện nay Quỹ môi trường Hà Nội đã qua giai đoạn thử nghiệm, nhiều kết quả có tác dụng tốt cho việc BVMT ở các doanh nghiệp cần được nhân rộng.

- Về việc hạch toán chi phí liên quan đến môi trường trong giá thành sản phẩm sản xuất ra cần lưu ý các trường hợp như sau: Nếu chi phí tính đủ làm đội giá thành của sản xuất thì trong một giai đoạn nào đó cần phải bóc tách khoản này để tính toán lại cơ sở đánh thuế thu nhập doanh nghiệp hay thuế lợi tức. Hoặc đưa ra điều kiện ràng buộc cho miễn giảm thuế gắn với việc hợp lý hóa được sản xuất, áp dụng công nghệ tiên tiến hay công nghệ sạch hơn ngay tại doanh nghiệp.

3.5. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BVMT cần tiếp tục đẩy mạnh, đặc biệt, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT trên phạm vi cả nước. Đẩy mạnh hơn nữa sự phối hợp tốt hơn giữa các cấp, các ngành, coi nhân dân là “tai mắt” trong quá trình thanh tra, kiểm tra; phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức chính trị, xã hội, các tổ chức phi chính phủ, của cộng đồng trong việc giám sát và thực thi các quy định pháp luật về BVMT. Đồng thời, tăng cường hơn nữa trách nhiệm quản lý nhà nước về BVMT đối với Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhằm thúc đẩy trách nhiệm quản lý nhà nước về BVMT các cấp đạt hiệu quả cao nhất. Thực hiện công bố công khai, rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng về các vi phạm của doanh nghiệp đối với công tác BVMT để nhân dân biết.

3.6. Tổ chức truyền thông rộng rãi, nâng cao nhận thức, tổ chức các diễn đàn kêu gọi đầu tư vào các công trình, dự án, hoạt động BVMT. Tăng cường cơ chế trao đổi thông tin liên quan đến lĩnh vực BVMT, tạo điều kiện thuận lợi cho khối tư nhân có nhu cầu tham gia công tác xã hội hóa BVMT.

BVMT, phát triển bền vững phải được coi là trọng tâm trong chiến lược kinh doanh, hoạt động sản xuất của cộng đồng doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, cộng đồng doanh nghiệp đã, đang và sẽ có vai trò chủ chốt trong việc thực hiện chính sách và pháp luật BVMT. Doanh nghiệp ủng hộ mục tiêu phát triển bền vững là cần thiết bởi nó đóng vai trò quan trọng hai chiều, tác động đến việc đảm bảo tốc độ và quy mô phát triển của mỗi doanh nghiệp đồng thời doanh nghiệp cũng đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển chung của đất nước và nhân loại.

 

 

Tuy nhiên, để thực hiện tốt chính sách và pháp luật, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nắm bắt được thời cơ, cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước cần được kết nối chặt chẽ, chung tay hành động vì mục tiêu phát triển chung của cả nhân loại./.

PGS.TS. BÙI CÁCH TUYẾN -Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
Tạp chí Thương hiệu Việt
Cập nhật: 18/06/2011

 QUẢNG CÁO 
Loading
Trang chủ |  Danh bạ Thương hiệu |  Tin tức |  Kiến thức XD Thương hiệu |  Liên hệ quảng cáo
LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM
Mạng truyền thông của Tạp chí Thương Hiệu Việt
© 2008 - Tạp chí Thương Hiệu Việt
Đ/c: 162/15/3 Bình Lợi, P.13, Q.Bình Thạnh, Tp.HCM
Giấy phép hoạt động báo chí số: 1333/GP-BTTT do Bộ Thông tin truyền thông
cấp ngày 05/09/2008
Chịu trách nhiệm điều hành: NB Phan Thị Mỹ Yến